Người Mỹ da đen: 400 năm tranh đấu để hiện thực hoá lý tưởng dân chủ của nước Mỹ.*

Những quả thông Georgia lướt qua cửa kính xe buýt Greyhound đang chở Isaac Woodard về nhà ở Winnsboro, South Carolina. Sau khi phục vụ quân đội Mỹ trong Thế Chiến II, Woodard đã nhận huân chương chiến đấu và được xuất ngũ danh dự từ quân doanh Gordon và đang trên đường về nhà gặp vợ. Khi xe buýt tạm dừng ở một tiệm dược phẩm cách Atlanta một tiếng, Woodard vướng vào cuộc cãi vã với tài xế người da trắng sau khi yêu cầu được sử dụng nhà vệ sinh. Nửa giờ sau, tài xế dừng lại  và yêu cầu ông xuống xe. Vẫn còn trong quân phục, Woodard bước ra khỏi xe buýt và thấy cảnh sát đã đứng chờ sẵn. Trước khi ông có thể nói gì, một cảnh sát đã dùng dùi cui đánh vào đầu Woodard và tiếp tục đánh đến khi ông bất tỉnh. Chấn thương đã làm ông mất đi thị lực khi tỉnh dậy trong nhà tù vào ngày hôm sau. Vụ hành hung đã diễn ra vỏn vẹn 4 tiếng rưỡi sau khi Woodard xuất ngũ. Ở tuổi 26, ông đã mất đi thị lực vĩnh viễn. 

Những vụ hành hung như của Woodard không phải là quá xa lạ. Kế từ sau giai đoạn Tái Thiết, từ Bắc chí Nam đã có làn sóng bạo lực có hệ thống chống lại người Mỹ da đen. Khi tinh thần bình đẳng của nước Mỹ thời hậu chiến đã tan biến để nhường chỗ cho mong muốn thống nhất đất nước, sự tồn tại của người Mỹ da đen trở thành lời nhắc nhở về những thất bại của quốc gia. Để giải quyết sự bất tiện đó, người Mỹ da trắng đã tạo một hệ thống phân biệt chủng tộc man rợ, gần như cách ly người da đen hoàn toàn khỏi quyền lợi và đời sống của công dân Mỹ– một hệ thống kinh dị đến độ Đức Quốc xã đã lấy cảm hứng cho những chính sách phân biệt chủng tộc của họ.   
















Issac Woodard và mẹ ở South Carolina năm 1946. Vào tháng 2 năm đó, Woodard, một cựu thành viên Quân đội ưu tú, đã bị hành hung bởi cảnh sát, dẫn đến mất đi thị lực. 
Từ Special Collections and Archives/Thư viện Đại học Georgia State    

Bất chấp sự bảo đảm bình đẳng trong Sửa đổi 14, Tòa án Tối cao đã ra quyết định Plessy v.Ferguson năm 1896, tuyên bố rằng chính sách phân li chủng tộc12 đối với người Mỹ da đen là không trái hiến pháp. Với sự cho phép của toà án tối cao và thiếu sự đồng thuận liên bang để biện hộ cho quyền của người da đen, bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, hàng loạt các bang miền Nam đã thông qua các đạo luật nhằm củng cố chế độ phân tầng xã hội theo chủng tộc bằng việc từ chối quyền chính trị, bình đẳng xã hội và nhân quyền cơ bản. Họ tiến hành các bài kiểm tra mù chữ 13 nhằm cản trở người da đen bỏ phiếu, tạo điều kiện để thành lập các cuộc bầu cử sơ bộ chỉ có cử tri da trắng. Người da đen bị cấm tham gia hội thẩm hoặc làm chứng chống lại người da trắng. Bang South Carolina cấm không cho công nhân dệt da đen và da trắng dùng chung một cửa. Bang Oklahoma ép buộc các công ty điện thoại phải tách biệt các bốt công cộng theo chủng tộc. Thành phố Memphis đặt ra các bãi đỗ xe riêng theo màu da. Thành bố Baltimore ban hành sắc lệnh cấm người da đen chuyển đến ở trong một dãy phố đã có hơn một nửa là người da trắng và ngược lại. Ở bang Georgia, việc người da trắng và da đen chôn cạnh nhau trong cùng một nghĩa trang là điều bất hợp pháp. Tiểu bang Alabama cấm người da đen sử dụng thư viện công cộng, dù họ đã đóng thuế để được sử dụng. Người da đen phải nhảy khỏi vỉa hè để tránh đường cho người da trắng và phải gọi tất cả người da trắng bằng kính ngữ, mặc kệ khác biệt tuổi tác. Ở miền Bắc, các chính trị gia da trắng thực hiện các chính sách tách biệt người da đen vào các khu phố ổ chuột và vào các trường học chỉ toàn người da đen, và cũng được cho là thấp kém hơn; đồng thời các hồ bơi công cộng chỉ dành cho người da trắng và hội chợ thì được chia ngày riêng cho người da trắng và “da màu;” các doanh nghiệp được phép từ chối phục vụ người da đen, đặt những tấm bảng “Chỉ dành cho người da trắng” trên cửa sổ. Tiểu bang California tiếp nối những tiểu bang miền Nam, cấm việc kết hôn giữa người da trắng và da đen trong khi hội đồng trường địa phương ở Illinois và New Jersey bắt buộc phân chia các trường học theo chủng tộc. 

Hệ thống phân tầng xã hội được duy trì bởi nạn khủng bố chủng tộc đầy hiềm khích. Và những cựu binh sĩ như Woodard, đặc biệt là những người còn dám mặc quân phục, đã trở thành mục tiêu của bạo lực sau Nội chiến. Tình trạng này đã gia tăng giữa hai thế chiến vì người da trắng cho rằng khi một người da đen ra nước ngoài và trải nghiệm cuộc sống không có áp bức chủng tộc ngột ngạt của nước Mỹ, họ khó có thể trở về cuộc sống nô dịch ở quê nhà. Như Thượng nghị sĩ James K. Vardaman của bang Mississippi đã phát biểu ở sàn Thượng viện trong Thế chiến I, rằng các quân nhân da đen quay trở về miền Nam sẽ dẫn đến “thảm hoạ không tránh khỏi.” Việc cho một người da đen được hưởng “vị thế quân sự” và gửi đi bảo vệ lá cờ tổ quốc có thể khiến anh ta kết luận rằng quyền chính trị của anh ta phải được tôn trọng.” 



12   Racial segregation: phân biệt chủng tộc có hệ thống, đế cập đến phân định các cơ sở, dịch vụ, và cơ hội như nhà ở, chăm sóc ý tế, giáo dục, việc làm và giao thông vận tải theo sắc da.

Jim Crow Laws | American Experience | Official Site | PBS
Những bảng hiệu “Khu vực đợi người da màu” ở những trạm xe buýt theo luật Jim Crow.
Nguồn: Thư viện Quốc hội

13  Literacy test: các bài kiểm tra mù chữ được ban hành giữa những năm 1850 và 1960 cho những người nhập cư, có hiệu lực tước đi quyền bầu cử của người Mỹ Phi.














Nhiều người Mỹ da trắng không nhìn nhận những người da đen mặc quân phục Hoa Kỳ như một cách thể hiện lòng yêu nước, mà coi đó là phô diễn sự kiêu hãnh một cách khiêu khích. Hàng trăm cựu binh da đen bị hành hung, đánh tàn phế, bắn bỏ và hành hình công khai không qua xét xử. Chúng ta muốn gọi những người sống trong Thế chiến II là Thế hệ vĩ đại nhất 14, nhưng ta không được phớt lờ thực tế rằng phần nhiều người thuộc thế hệ này tranh đấu cho nền dân chủ ở nước khác trong khi đàn áp quyền dân chủ một cách tàn nhẫn của hàng triệu công dân Mỹ. Trong đỉnh điểm của nạn khủng bố chủng tộc, người Mỹ da đen không chỉ bị giết, họ bị thiến, thiêu sống, và cắt cụt; rồi những bộ phận cơ thể của họ bị phơi bày ra trước những cửa hàng. Sự tàn bạo này nhằm gieo rắc sợ hãi và kiểm soát người da đen, và quan trọng không kém, nó đóng vai trò là liều thuốc hỗ trợ tâm lý cho quyền thượng đẳng của người da trắng:15 Không ai lại đối xử với con người như thế cả. Những hành vi bạo lực khốc liệt thể hiện cơ chế tâm lý cần thiết để người Mỹ da trắng được giải phóng khỏi tội lỗi của đất nước họ. Để đối diện với câu hỏi làm thế nào họ có thể cổ vũ cho tự do trên quốc tế trong khi từ chối quyền tự do cho cả một chủng tộc ở quê nhà, người Mỹ da trắng đã dựa vào cùng một kiểu tư tưởng phân biệt chủng tộc như Jefferson và những nhà cầm quyền lúc lập quốc. 

Hệ tư tưởng rằng người da đen thuộc về một chủng tộc hạ đẳng hơn loài người không đơn giản biến mất khi chế độ nô lệ kết thúc. Nếu những người từng làm nô lệ và con cháu của họ được hưởng giáo dục, nếu chúng ta làm tốt hơn công việc của người da trắng, nếu chúng ta thật giỏi trong khoa học và nghệ thuật, thì khi đó toàn bộ những biện minh cho chế độ nô lệ của đất nước này sẽ sụp đổ. Sự tự do của người da đen đe dọa cái tôi tự mãn của đất nước; sự hiện hiện của chúng ta là lời nhắc nhở nước Mỹ phải miễn cưỡng nhìn nhận lại chính mình. Vậy nên tất thảy sự vô nhân đạo nhắm đến người da đen bởi nhiều thế hệ người Mỹ da trắng là nhằm chứng minh sự vô nhân đạo trong quá khứ là chính đáng.  

Như những gì người Mỹ da trắng từng sợ, Chiến Tranh thế giới thứ II hủy hoại nỗ lực dân chủ thứ II của người Mỹ gốc Phi. Tờ The Pittsburgh Courier dành cho người da màu đã viết: “Chúng ta đang phải gánh chịu hai hướng tấn công, một bên là những tên chủ nô ở nhà, một bên là những kẻ thù ngoại bang sẽ biến chúng ta thành nô lệ”. Vụ Woodard được xem là chất xúc tác cho cuộc nổi loạn kéo dài hàng thập kỷ mà ta gọi là là phong trào dân quyền. Nhưng xin nhớ rằng đây là phong trào đòi quyền bình đẳng lần thứ hai của người da đen, lần thứ nhất là thời kỳ Tái thiết.  Chế độ nô lệ đã kết thúc đã gần được cả thế kỷ, vậy mà những người da đen vẫn phải kiên định đòi những quyền bình đẳng mà họ đã đấu tranh và giành được trong cuộc nội chiến: quyền được đối xử bình đẳng bởi các tổ chức cộng đồng, thứ mà họ được hứa hẹn vào năm 1866 trong Đạo luật Dân quyền; quyền được đối xử là một công dân vẹn toàn và hợp pháp, thứ họ được hứa hẹn vào năm 1868 trong Sửa đổi hiến pháp 14; và quyền được bầu cử, thứ họ được hứa hẹn vào năm 1870 trong Sửa đổi 1516. Đáp lại những yêu cầu của người da đen về quyền bình đẳng, người da trắng treo cổ họ trên những cành cây, đánh đập và vứt xác họ trong những dòng sông ngập bùn, ám sát họ ngay trong nhà của họ, đánh bom họ trên xe bus, dùng chó săn truy sát họ, lột da họ bằng vòi cứu hỏa, hay sát hại con cái họ bên trong nhà thờ bằng chất gây nổ.

Trong những phong trào của mình, người Mỹ-Phi đa phần phải chiến đấu một mình. Nhưng chúng ta không bao giờ chỉ chiến đấu cho bản thân. Cuộc đấu tranh đẫm máu cho dân quyền đã đặt nền tảng cho những phong trào đòi quyền tự do khác. Những người da trắng khi lập quốc đã đưa ra một hiến pháp phi dân chủ nhằm loại bỏ phụ nữ, người Mỹ bản địa và người da đen ra rìa, và đã không cung cấp quyền bầu cử hay sự bình đẳng cho đa số cư dân Mỹ. Nhưng các bộ luật được sinh ra từ sự phản kháng của người da đen đã đảm bảo quyền lợi cho tất cả và cấm các hành vi phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, giới tính, quốc tịch, tôn giáo, và khuyết tật. Chính phong trào đòi quyền tự do dân chủ đã dẫn đến việc ban hành đạo luật Nhập cư và Quốc tịch năm 1965, dỡ bỏ hạn ngạch chủng tộc trong chính sách nhập cư, một hệ thống phân biệt chủng tộc để bảo đảm nước Mỹ chỉ dành cho người da trắng. Từ thành quả của người Mỹ-Phi mà người nhập cư da đen hay da nâu từ khắp nơi trên địa cầu đều được phép đặt chân lên nước Mỹ và sống trong một quốc gia không có phân biệt đối xử theo luật pháp.  Thật trớ trêu thay khi một số người Mỹ gốc Á, những người nằm trong cộng đồng có thể nhập cư sang Mỹ nhờ vào đấu tranh dân quyền của người gia đen, lại đang yêu cầu các trường đại học chấm dứt những chương trình có mục tiêu hỗ trợ con cháu của những người nô lệ.

14  Greatest Generation: thế hệ người Mỹ lớn lên qua Đại Khủng hoảng kinh tế và phục vụ trong Thế chiến thứ II.














15 Chủ nghĩa da trắng thượng đẳng – White supremacy: Niềm tin rằng chủng tộc da trắng, da sáng màu thượng đẳng hơn các chủng tộc khác. Hiện nay, các nhóm vì da trắng thượng đẳng (white supremacist) bao gồm các nhóm phân biệt chủng tộc, Phát xít, với nhiều hành vi bạo lực tấn công các nhóm thiểu số.



























16  Sửa đổi 15: Quyền đầu phiếu không còn bị giới hạn bởi chủng tộc. Nguyên văn tiếng Anh: Prohibits the denial of the right to vote based on race, color or previous condition of servitude. 

Cuộc diễu hành dân quyền ở Washington, 1963. Associated Press

Không có ai trân trọng tự do hơn những người không có nó. Và đến tận ngày hôm nay, người Mỹ-Phi, hơn bất cứ cộng đồng nào, luôn coi trọng những lý tưởng dân chủ về sự bình đẳng. Chúng ta luôn ủng hộ những chính sách như Chăm sóc sức khoẻ phổ phát (universal health care) và vận động nâng mức lương tối thiểu, đồng thời phản đối những chính sách gây hại cho đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội. Một ví dụ điển hình, dù người Mỹ-Phi thiệt thòi nhiều nhất từ những tội ác bạo lực, thế nhưng chúng ta là những người phản đối lệnh tử hình nhiều nhất. Tỷ lệ thất nghiệp của chúng ta gấp đôi người Mỹ da trắng, thế nhưng chúng ta là cộng đồng có số lượng lớn nhất, trong tất cả các cộng đồng khác, nói rằng đất nước này nên chấp nhận người nhập cư.

Sự thật là, nền dân chủ mà quốc gia này có được ngày nay được sinh ra trên lưng của những người da đen tham gia phản kháng. Những vị lãnh tụ khai quốc có thể không tin vào những lý tưởng họ từng viết ra, nhưng người da màu thì có. Học giả Joe R.Feagin nói rằng: “Những nô lệ Mỹ-Phi là đã và đang là những người đấu tranh cho tự do nhiều nhất cho đất nước này.” Qua nhiều thế hệ, chúng ta đã tin tưởng vào đất nước này dù nó không hề xứng đáng với niềm tin ấy. Người da đen là chứng nhân của một nước Mỹ tồi tệ nhất, vậy nhưng chúng ta vẫn tin vào những tiềm năng tốt đẹp nhất của nước Mỹ.


Chuyện kể rằng chúng ta được sinh ra trên mặt nước. 

Không ai trong số họ nhớ được là lúc nào. Có thể là tuần thứ hai, hoặc thứ ba, nhưng chắc chắn là đến tuần thứ tư thì họ bắt đầu không đếm được ngày tháng bởi họ không còn nhìn thấy mảnh đất quê hương hay bất kì mảnh đất nào để lường thời gian nữa. Sự sợ hãi trở thành nỗi tuyệt vọng, rồi thành sự khuất phục, và từ khuất phục biến thành sự cam chịu. Sự mênh mông vĩnh cửu của Đại Tây Dương đã chia cách họ và mảnh đất quê hương nhiều đến mức như thể quá khứ chưa từng tồn tại, như thể tất cả mọi thứ, mọi người họ yêu thương đã hoàn toàn biến mất. Họ không còn là những người Mbundu hay Akan hay Fulani. Những người đàn ông và phụ nữ này đến từ nhiều dân tộc khác nhau, nhưng nay bị xiềng xích chung với nhau trong một thân tàu ngột ngạt, và giờ họ đều như nhau.

Chỉ mới vài tháng trước, họ vẫn có gia đình, nông trại, cuộc sống và ước mơ. Họ từng có tự do, và dĩ nhiên, họ từng có tên. Thế  nhưng, những kẻ buôn nô lệ đã không bận tâm đến nhưng điều đó. Họ bị gán cho cái danh xưng Người da đen bởi những cho rằng mình là Người da trắng, và trên đà suy nghĩ đó, chúng đã đánh đồng “Đen” bằng “nô lệ.”  Chế độ nô lệ ở Mỹ đã biến một người bình thường trở thành tài sản, bằng cách tước đi của họ mọi yếu tố khiến họ được xem là một cá nhân. Quá trình này được gọi là tẩm ướp 17, ở đó, những người ở phía Tây và Trung phi bị bắt đi bằng vũ lực, bị hành hạ, và cấm nói thứ tiếng mẹ đẻ của họ hay thực hành nghi lễ tôn giáo bản địa. 

Edward Crawford Jr. ném trả ống đựng hơi cay lại cho cảnh sát khi cảnh sát giải tán các cuộc biểu tình ở Ferguson, bang Missouri, vào năm 2014. Robert Cohen/St. Louis Post-Dispatch, via Associated Press

Nhà xã hội học Glenn Bracey đã từng viết: “Trên đống tro tàn của sự miệt thị Trắng, chúng ta tự khai sinh ra chính mình.” Dù cho người da trắng cố gắng ép chúng ta, thì sự thật là người da đen không phải là những món đồ để sở hữu. Và thế là quá trình “tẩm ướp” thay vì xóa đi danh tính của người da đen, lại tạo ra kết quả ngược lại: chúng ta đã tạo nên một thứ văn hóa mới của riêng mình.

Ngày nay, cách nói chuyện giao tiếp của chúng ta gợi nhớ đến ngôn ngữ Creole18, được phát minh bởi những người nô lệ nhằm giao tiếp giữa những người châu Phi nói nhiều thứ tiếng và cả những người nói Tiếng Anh từng một thời nô dịch họ. Cách ăn vận của chúng ta, thêm thắt tinh tế chỗ này chỗ kia, bắt nguồn từ ham muốn của những người nô lệ – ham muốn về bản sắc, sự cá biệt. Những người nô lệ từng đội những chiếc nón ngộ nghĩnh hoặc quấn những chiếc khăn đầu rất phức tạp tinh tế. Ngày nay, tính Tiên phong (avant-garde) của kiểu tóc và thời trang người da đen phản ánh sống động quyết tâm tự chủ, được làm một con người vẹn toàn, thông qua phép thể hiện bản thân. Chất ngẫu hứng trong âm nhạc và mỹ thuật của người da đen bắt nguồn từ một văn hóa liên tục bị gián đoạn và không thể bám lấy một hệ quy ước. Cách người da đen tự đặt tên, dù thường bị xã hội gạt đi, là một hình thức phản kháng. Trước đây, tên họ của một người da đen được lấy theo người da trắng sở hữu họ. Đó là lý do rất nhiều người Mỹ-Phi, đặc biệt là những người chịu thiệt thòi nhất, khăng khăng đặt cho con họ những cái tên họ tự nghĩ ra, không thuộc về Châu Âu hay Châu Phi, mà ở một vùng đất họ chưa từng đặt chân đến, như một hành động tự quyết. Khi thế giới nghe thứ âm nhạc tinh túy nhất của nước Mỹ, đó là họ đang nghe giọng của chúng tôi-những người da đen. Những bài hát nặng trĩu đau thương mà chúng ta đã xướng trên những cánh đồng nhằm dịu nỗi đau thể xác và kiếm tìm hy vọng vào sự tự do, mà chúng ta chỉ có thể được biết đến khi đã chết, đã trở thành nhạc Phúc âm Hoa Kỳ. Giữa bạo lực và sự nghèo đói ở vùng đồng bằng Mississippi, chúng ta tạo ra Jazz và Blues. Và chính trong những khu dân cư nghèo nàn và tách biệt chủng tộc mà người Mỹ da trắng buộc con cháu của những nô lệ phải sống, những thanh thiếu niên không đủ tiền mua nhạc cụ đã sử dụng những bản ghi âm cũ để tạo ra thể loại nhạc hip-hop.

Ngôn từ, thời trang và những tiếng trống trong âm nhạc của chúng ta mang âm hưởng châu Phi nhưng không phải là văn hoá châu Phi. Từ sự cô lập ở giữa văn hóa bản địa và văn hoá của nước Mỹ da trắng, chúng ta tạo nên một nền văn hóa nguyên bản và quan trọng nhất nước Mỹ. Và, xã hội “đại chúng” đã thèm thuồng phong cách, tiếng lóng, âm nhạc của chúng ta, và luôn tìm cách để chiếm đoạt19 (appropriate) nền văn hoá thuần Mỹ duy nhất. Như Langston Hughes đã viết vào năm 1926:

“Họ sẽ thấy tôi đẹp như thế nào
Và sẽ hổ thẹn —
Tôi, cũng, là một người Mỹ” 20

Hàng thế kỷ, người Mỹ trắng đã luôn cố gắng giải quyết “nạn da đen” (the “Negro problem”). Họ tốn bao nhiêu giấy mực để xử lý nó. Họ cứ hay chỉ ra tỷ lệ nghèo đói của người da đen, sinh con ngoài giá thú, tỷ lệ tội phạm và tỉ lệ được giáo dục đại học như thể những con số này có gì đáng ngạc nhiên, khi mà quốc gia này được xây dựng trên hệ thống phân biệt chủng tộc. Điều quan trọng là, không thể đọc những thống kê này mà không nhắc đến một sự thật: người da đen đã làm nô lệ trong khoảng thời gian lâu hơn nhiều so với thời gian chúng ta được tự do.























17 Tẩm ướp – Seasoning: Bắt nguồn từ thời kỳ thuộc địa, quá trình “tẩm ướp” được thực thi bằng nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như để các nạn đói và bệnh nhiệt đới hoành hành những người thuộc địa cũng như nô lệ. Một khi sống sót sau dịch bệnh, họ được gắn mác là “đã được tẩm ướp,” và sẽ được rao bán với giá cao hơn.
































18 Creole language: Ngôn ngữ Creole hay đơn giản là Creole là thuật ngữ để chỉ loại ngôn ngữ được sử dụng bởi một cộng đồng nhất định, được sinh ra do sự tiếp xúc của hai hay nhiều ngôn ngữ khác của những cá thể trong cộng đồng ấy






















19 Chiếm đoạt văn hoá – cultural appropriation: cụm từ để nói về trường hợp những người thuộc nhóm có quyền lực hơn sử dụng những vật phẩm, yếu tố văn hoá của những nhóm yếu thế bị đàn áp, một cách bừa bãi, vật hoá, không tôn trọng lịch sử và gạt đi những chênh lệch về quyền lực. 



20 Trích trong bài thơ “I, Too” của thi sĩ Langston Hughes, một nhà hoạt động xã hội, và cũng là một người bạn thân cận của Dr. Martin Luther King. Đọc nguyên văn bài thơ ở đây

Ieshia Evans bị cảnh sát bắt giữ tại một cuộc biểu tình của phong trào Đòi Quyền Sống Cho Người Da Đen (Black Lives Matter) năm 2016 bên ngoài trụ sở của Sở Cảnh sát Baton Rouge. Jonathan Bachman/Reuters.

Tôi năm nay 43 tuổi, và mới thuộc thế hệ người Mỹ da đen đầu tiên được sinh ra trong một xã hội Hoa Kỳ mà người da đen có toàn quyền công dân. Người da đen phải chịu đựng chế độ nô lệ trong suốt 250 năm, và chỉ được “tự do” trong 50 năm trở lại đây. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, mặc dù vẫn phải tiếp tục đối mặt với sự phân biệt đối xử về mọi mặt, và chưa bao giờ nhìn thấy bất kỳ nỗ lực nào để sửa chữa những hậu quả của chế độ nô lệ và chế độ apartheid kéo dài một thế kỷ sau đó, người Mỹ da đen đã đem lại những phát triển kinh ngạc, không chỉ cho chính họ mà còn cho mọi người dân Mỹ.  

Nước Mỹ có hiểu rằng, trong suốt 400 năm qua, chúng ta không phải vấn đề, mà chúng ta là giải pháp?

Khi tôi còn nhỏ, tầm lớp năm hay lớp sáu gì đấy, tôi được cô giáo giao bài tập về sự đa dạng văn hoá của Hoa Kỳ. Cô giáo hướng dẫn từng học sinh viết một báo cáo ngắn về quê hương tổ tiên của mình rồi sau đó vẽ hình lá cờ của quốc gia đó. Khi cô giáo vừa quay lên bảng để viết đề bài, bạn học sinh nữ da đen còn lại trong lớp quay lại nhìn tôi. Chế độ nô lệ đã cắt đứt kết nối của chúng tôi với bất cứ đất nước châu Phi nào, và thậm chí nếu chúng tôi nói về cả châu lục thì cũng làm gì có “lá cờ châu Phi.” Làm một trong hai đứa nhóc da đen duy nhất trong lớp còn chưa đủ tệ, bài tập hôm đó lại tiếp tục xoáy sâu vào khoảng cách giữa chúng tôi và mấy đứa trẻ da trắng còn lại. Cuối cùng, tôi bước đến quả địa cầu gần bàn giáo viên, chọn đại một nước châu Phi nào đó rồi xem như đó là xuất xứ của mình. 

Bây giờ nghĩ lại, tôi ước gì mình có thể quay về gặp bản thân mình lúc còn nhỏ, và bảo cô bé ấy rằng tổ tiên của cô ấy khởi đầu ở đây, trên mảnh đất này, và rằng hãy cứ tự hào vẽ những ngôi sao, kẻ những đường sọc của lá cờ nước Mỹ. 

Chúng ta đã từng không được làm người Mỹ vì bị gông cùm kềm chặt. Thế nhưng, chính những gông cùm đó đã khiến chúng ta xứng đáng được gọi là người Mỹ hơn bất kỳ ai khác. 


Về tác giả: Nikole Hannah-Jones là một tay viết của tạp chí New York Times. Cô từng đoạt danh hiệu MacArthur fellow năm 2017, đạt giải Tạp chí Quốc gia, giải Peabody, và giải George Polk Award.

Về người minh hoạ: Adam Pendleton là nghệ sĩ được biết đến với những tác phẩm tranh, dán ghép, video, sắp đặt vừa mạnh về ý niệm, vừa sáng tạo về hình thức, bàn về lịch sử và văn hóa đương đại.


Nhóm dịch: Đoàn Thanh Toàn (dịch và biên tập), V.T.Q.Châu, N.P.Bình.

Leave a comment