Tháng 8 năm 1862, chỉ năm năm sau khi tòa án tối cao tuyên bố người da đen không thể là công dân Mỹ, Tổng thống Abraham Lincoln mời đến Nhà trắng năm người đàn ông da đen, đều là những người tự do và đáng nể trọng. Đó là một trong những lần hiếm hoi người da đen được mời làm khách tại Nhà trắng. Lúc này Nội chiến đã âm ỉ hơn một năm. Những người da đen đấu tranh bãi bỏ nô lệ, cũng chính là những người tạo áp lực cho Lincoln chấm sức nô lệ, chắc hẳn cũng cảm thấy đầy hy vọng và tự hào.
Tình hình nội chiến không mấy suôn sẻ cho Lincoln. Nước Anh đang cân nhắc xem có nên can thiệp theo phe Liên minh miền Nam, và Lincoln, không thể chiêu mộ đủ người da trắng để tình nguyện chiến đấu, buộc phải xem xét lại việc phản đối người Mỹ da đen tham gia đấu tranh giải phóng chính họ. Tổng thống lúc này đang cân nhắc việc đe dọa giải phóng tất cả nô lệ ở các bang đã ly khai khỏi Liên bang miền Bắc nếu các bang không chấm dứt nổi loạn. Tuyên bố này cũng sẽ cho phép những người từng là nô lệ gia nhập quân đội Liên bang và chiến đấu chống lại những người “chủ” trước đây của họ. Nhưng Lincoln quan ngại về hậu quả của nước cờ thách thức này. Giống như nhiều người Mỹ da trắng, Lincoln phản đối chế độ nô lệ vì nó là một hệ thống tàn ác, trái ngược với những lý tưởng của nước Mỹ, nhưng ông ta cũng phản đối sự bình đẳng cho người da đen. Ông tin rằng sự hiện diện của người da đen tự do trở nên “phiền phức” vì họ không hợp với nền dân chủ chỉ được thiết kế cho người da trắng. “Thả tự do cho họ, rồi còn cho họ bình đẳng về chính trị và xã hội như chúng ta?” Lincoln phát biểu trước đó bốn năm, “Tôi thấy không chấp nhận được, mà cho dù tôi có chấp nhận, thì chắc chắn đại đa số người da trắng cũng sẽ không đồng tình.”
Vào một ngày tháng 8 năm đó, khi những người đàn ông da đen đến Nhà Trắng, họ được chào đón bởi ngài Lincoln cao ngất ngưởng và một người đàn ông tên James Mitchell. Tám ngày trước đó James đã được giao cho chức vụ mới tinh gọi là ủy viên di cư. Đây chính là nhiệm vụ đầu tiên của James. Sau màn chào hỏi, Lincoln đặt thẳng vấn đề. Ông báo với những vị khách rằng ông đã được Quốc hội giao quỹ để đưa người da đen đến một đất nước khác sau khi họ được thả tự do.

“Tại sao họ nên rời đất nước này? Có lẽ đây là câu hỏi đầu tiên cần xem xét kỹ,” Lincoln nói, “Các anh và chúng tôi là hai chủng tộc khác nhau… Chủng tộc của các anh phải trải qua bao chịu đựng, phần nhiều vì phải sống với chúng tôi, còn chúng tôi thì cũng phải chịu đựng sự hiện diện của các anh. Nói cho dễ hiểu là, bên nào cũng chịu đựng.”
Không nói cũng có thể hình dung được sự im lặng bao trùm căn phòng lúc đó. Trọng lượng của lời nói vị Tổng thống đè nặng lên năm người đàn ông da đen. Đã 243 năm trôi qua kể từ khi tổ tiên đầu tiên của họ đặt chân lên châu lục này, trước cả gia đình Lincoln, trước hầu hết những người da trắng đang khăng khăng rằng đất nước này không phải của người da đen. Liên bang miền Bắc tham gia vào nội chiến không phải để chấm dứt chế độ nô lệ, mà là để ngăn miền Nam tách ra, nhưng đàn ông da đen cũng đã xung phong chiến đấu. Những người nô lệ đang chạy trốn khỏi các trại lao động cưỡng bức, mà được gọi là đồn điền, đang phải cố gắng chiến đấu, tình báo, chống phá phe Liên minh, cầm vũ khí vừa vì chính nghĩa của họ, vừa vì mục tiêu của Lincoln. Vậy mà giờ Lincoln lại đổ nguyên nhân chiến tranh cho họ. “Dù là nhiều người ở hai bên chiến tuyến không quan tâm mấy đến các anh, … nhưng nếu không phải vì thể chế nô lệ và chủng tộc da đen thì đã không có chiến tranh,” Tổng thống nói, “Vậy nên sẽ tốt nhất cho cả hai bên nếu ta cứ tách biệt ra.”
Khi Lincoln phát biểu xong, đại diện cho đoàn khách Edward Thomas, hẳn là với giọng cộc lốc, đã nói rằng họ sẽ tham khảo ý kiến của Tổng thống. “Cứ từ từ suy nghĩ,” Lincoln nói, “Không phải vội.”
Ba năm sau buổi gặp mặt ấy tại Nhà Trắng, Tướng Robert E. Lee đầu hàng tại Appomattox. Nội chiến kết thúc hè năm đó, trả tự do cho bốn triệu người Mỹ da đen. Ngược lại với suy nghĩ của Lincoln, đa số họ đều không muốn rời đi, bởi họ nhất trí với quan điểm phản đối việc người da đen tham gia thuộc địa,7 như nhiều lãnh đạo người da đen ở New York phát biểu vài thập kỷ trước đó: “Đất nước này là nhà của chúng ta. Dưới lớp đất kia là xương cốt của ông cha ta… Ta sinh ra ở đây, và sẽ chết ở đây.”
Việc những người cựu nô lệ không muốn nhận lời Lincoln để từ bỏ mảnh đất này là minh chứng hùng hồn cho niềm tin của họ vào những lý tưởng nền móng của quốc gia. Như W.E.B Du Bois đã viết, “Không mấy người tôn sùng Tự do với một lòng tin tuyệt đối như người Mỹ da đen đã tin trong suốt hai thế kỷ.” Người Mỹ da đen đã kêu gọi bình đẳng phổ quát từ rất lâu rồi, và họ tin rằng, như nhà hoạt động bãi nô Martin Delany đã từng nói, “Chúa đã tạo ra mọi dân tộc sinh sống trên trái đất từ cùng một dòng máu.” Vậy nên sau khi được giải phóng bởi nội chiến, họ không tìm cách trả thù những kẻ áp bức như quan ngại của Lincoln và nhiều người Mỹ da trắng. Trái lại là đằng khác. Trong khoảng thời gian Tái thiết 8 ngắn ngủi, từ năm 1865 đến 1877, những người cựu nô lệ đã nhiệt tình tham gia vào quy trình dân chủ. Trong khi quân đội liên bang phải kiểm soát bạo lực do người da trắng dấy lên ở khắp nơi, người miền Nam da đen đã bắt đầu lập ra các chi hội của Liên minh Quyền Bình đẳng – một trong những tổ chức nhân quyền đầu tiên của Mỹ – để chống phân biệt đối xử và vận động cử tri; họ rủ nhau kéo tới các chốt bầu cử, và dùng lá phiếu của mình để đưa những người cựu nô lệ lên vị trí của những người cựu chủ nô. Lần đầu tiên trong lịch sử đất nước, miền Nam bắt đầu thấp thoáng hình ảnh một nền dân chủ. Người Mỹ da đen được bầu vào các cơ quan địa phương, tiểu bang và liên bang. Khoảng 16 người da đen đại diện trong Quốc hội – bao gồm Hiram Revels của bang Mississippi, người da đen đầu tiên được bầu vào Thượng viện. (Để thấy thật ra giai đoạn này ngắn ngủi như thế nào, có thể thấy Revels, cùng với Blanche Bruce, là những người da đen đầu tiên nhưng cũng là cuối cùng được bầu trong gần một trăm năm, cho đến khi Edward Brooke của bang Massachusetts đắc cử vào năm 1967). Hơn 600 người da đen đã phục vụ trong các cơ quan lập pháp ở các bang miền Nam và hàng trăm người khác cũng làm việc ở các cơ quan địa phương.
Những viên chức người da đen này đã cùng những thành viên da trắng của đảng Cộng hòa, trong đó có một số từ miền Bắc, để viết những bản hiến pháp bang bình đẳng nhất trong lịch sử miền Nam. Họ đã giúp thông qua những luật thuế công bằng hơn và thông qua luật cấm phân biệt đối xử trong giao thông công cộng và nhà ở. Có lẽ thành tựu lớn nhất của họ là thành lập hệ thống dân chủ nhất của nước Mỹ: trường công lập. Giáo dục công hoàn toàn không tồn tại ở phía Nam trước thời kỳ Tái thiết. Trước đó, giới da trắng nhà giàu thì cho con học trường tư thục, trong khi những trẻ da trắng nhà nghèo thì không được đi học. Nhưng những người da đen vừa được thả tự do, trước đó đã bị cấm học đọc và viết khi còn là nô lệ, đã khát khao một nền giáo dục. Vì vậy, các nhà lập pháp người da đen đã thành công thúc đẩy một hệ thống trường phổ cập do bang tài trợ, không chỉ cho con cái của họ mà còn cho cả trẻ em da trắng. Các nhà lập pháp da đen cũng đã giúp thông qua luật giáo dục bắt buộc đầu tiên trong khu vực. Trẻ em ở miền Nam, dù màu da nào, cũng đều bắt buộc phải đi học như bạn bè đồng trang lứa ở miền Bắc. Chỉ sau năm năm Tái thiết, tất cả các bang miền Nam đã công nhận trong hiến pháp quyền giáo dục công cho mọi trẻ em. Ở một số bang như Louisiana và Nam Carolina, trong một giai đoạn ngắn, vài nhóm trẻ em da đen và da trắng, đã được đi học cùng nhau.
Quyền dân sự và nhân quyền trong những năm hậu nô lệ được cải thiện với tốc độ chưa tiền lệ trong lịch sử Mỹ, dưới sự lãnh đạo của các nhà hoạt động người da đen và Đảng Cộng Hòa bị đẩy về phía tả trong sự suy thoái của các quyền lực miền Nam. Vào năm 1865, Quốc hội thông qua Sửa đổi 13 9, Hoa Kỳ chính thức thành một trong những quốc gia cuối cùng bãi bỏ chế độ nô lệ. Trong năm tiếp theo, người Mỹ da đen đã sử dụng quyền lực chính trị mới giành được để thúc đẩy các nhà lập pháp da trắng thông qua Đạo luật Dân quyền, chưa có tiền lệ trong nước và cũng là một trong những đạo luật dân sự mở rộng nhất mà Quốc hội từng thông qua. Đạo luật đã giúp quyền công dân của người da đen được hợp pháp hoá, cấm phân biệt đối xử về nhà ở, và cho mọi người dân Mỹ quyền mua và thừa kế tài sản, lập và thực thi hợp đồng, cũng như đòi bồi thường thông qua toà án. Năm 1868, Quốc hội đã phê chuẩn Sửa đổi 14, đảm bảo quyền công dân cho bất kỳ người nào sinh ra ở Hoa Kỳ. Ngày nay, nhờ sửa đổi này, mọi trẻ em sinh ra ở Mỹ bởi một người nhập cư châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh hoặc Trung Đông đều tự động có quốc tịch. Theo Sửa đổi 14 10, lần đầu tiên, hiến pháp đảm bảo quyền được bảo vệ bình đẳng cho tất cả mọi người. Kể từ đó, gần như tất cả các nhóm bị lề hóa khác đã sử dụng Sửa đổi thứ 14 trong các cuộc đấu tranh bình đẳng (bao gồm cả những lập luận thành công gần đây trước Tòa án Tối cao cho quyền hôn nhân đồng giới). Cuối cùng, vào năm 1870, Quốc hội đã thông qua Sửa đổi thứ 15, đảm bảo khía cạnh quan trọng nhất của dân chủ và quyền công dân – quyền bầu cử – cho tất cả mọi người bất kể “chủng tộc, màu da, hay tình trạng nô lệ trước đây.”
Trong giai đoạn Tái thiết ngắn ngủi sau tro tàn của Nội chiến, đa số đại biểu Quốc hội có vẻ đón nhận một nền dân chủ đa chủng tộc như người Mỹ da đen đã luôn hy vọng, dù khác biệt với tư tưởng của những nhà khai quốc.
Nhưng chẳng được bao lâu.
Sự phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa bài da đen là một phần DNA của đất nước này, cũng như niềm tin rằng người da đen là trở ngại để Mỹ trở thành quốc gia thống nhất, chính như Lincoln đã phát biểu dạo đó. Thành tựu của công cuộc Tái thiết bị phản đối mạnh mẽ trên toàn miền Nam: những người cựu nô lệ chịu nhiều hình thức bạo lực tàn bạo, cử tri bị đàn áp, gian lận bầu cử diễn ra, và thậm chí trong vài trường hợp, có những cơ quan chính phủ bị lật đổ bởi có cả viên chức da đen lẫn da trắng. Trước những bất ổn đó, chính phủ liên bang quyết định đổ lỗi cho người da đen, và nhằm thống nhất quốc gia thì chính phủ lại ngừng can thiệp vào các bang miền Nam. Năm 1877, tổng thống Rutherford B. Hayes thoả hiệp với thành viên đảng Dân chủ miền Nam để cạnh tranh lá phiếu tổng thống trong kỳ bầu cử khá quyết liệt, và đồng ý rút quân đội liên bang khỏi miền Nam. Quân đội rút khỏi thì cũng là lúc miền Nam đập bỏ những thành tựu của công cuộc Tái thiết. Người da trắng áp chế người da đen một cách hệ thống và quyết liệt, đến mức giai đoạn giữa những năm 1880 và 1920 được gọi là Great Nadir hay chế độ nô lệ thứ hai. 11 Suốt một thế kỷ sau đó, nền dân chủ ở miền Nam biến mất.
Mặt khác, cuộc sống của mọi tầng lớp người miền Nam được cải thiện đáng kể, nhờ phần lớn vào các cải tiến chính sách và luật pháp do người da đen giành được, dù họ vẫn bị cưỡng bức đến mức gần như trở lại thời nô lệ. Waters McIntosh, từng bị bắt làm nô lệ ở bang South Carolina, thốt lên rằng “Nội chiến chỉ giải phóng người nghèo da trắng, chứ người da đen thì đâu vẫn hoàn đó.”
7 Phong trào người Mỹ da đen “quay trở lại” châu Phi sau nội chiến.
8 Reconstruction: Giai đoạn từ 1863-1877, nước Mỹ đi vào tái thiết sau Nội Chiến, là giai đoạn quan trọng trong lịch sử nhân quyền Hoa Kỳ.
9 Sửa đổi 13 trong Hiến pháp Hoa Kỳ thừa nhận rằng: (trích nguyên văn tiếng Anh) “Neither slavery nor involuntary servitude, except as a punishment for crime whereof the party shall have been duly convicted, shall exist within the United States, or any place subject to their jurisdiction.”
10 Sửa đổi 14: một trong 27 các sửa đổi của Hiến Pháp Hoa Kỳ. Nguyên văn tiếng Anh đoạn đầu của Sửa đổi 14: “All persons born or naturalized in the United States, and subject to the jurisdiction thereof, are citizens of the United States and of the state wherein they reside. No state shall make or enforce any law which shall abridge the privileges or immunities of citizens of the United States; nor shall any state deprive any person of life, liberty, or property, without due process of law; nor deny to any person within its jurisdiction the equal protection of the laws.”
11 Great Nadir: thời kỳ sau kết thúc Tái thiết năm 1877 đến đầu thế kỷ 20, khi nạn phân biệt chủng tộc ở Mỹ còn tệ hơn bất kỳ thời kỳ nào khác trong lịch sử đất nước.

Từ thư viện DeGolyer, Đại học Southern Methodist, Dallas.