Vài lưu ý từ nhóm dịch:
-
- (*) Tựa bài này do người dịch đặt. Tựa bài gốc: “Lý tưởng dân chủ của chúng ta đã sai lầm từ khi lập quốc. Chính người Mỹ da đen đã tranh đấu để biến sai thành đúng”
- Bản dịch này phỏng theo bài báo từ trang web NYT, truy cập ngày 8/6/2020. Link đến bài viết gốc trên tạp chí New York Times.
- Mọi chú thích đều là của nhóm dịch, nhằm đưa thêm thông tin tham khảo và khuyến khích người đọc tự nghiên cứu thêm. Wikipedia không phải là nguồn tin được kiểm chứng và rà soát, nhưng có thể là nơi khởi điểm để tìm hiểu. Phần chú thích nằm bên phải bài dịch, để bạn đọc dễ dàng theo dõi thông tin. Mọi thiết kế định dạng và tô đậm đều do nhóm dịch tự quyết.
- Bản dịch này được thực hiện để thể hiện tình đoàn kết với người Mỹ da đen trong phong trào đấu tranh đòi quyền sống Black Lives Matter, chống lại bạo lực của cảnh sát và bạo lực mang tính hệ thống. Vui lòng chỉ sử dụng với mục đích giáo dục và tham khảo. Thực hiện trong thời gian ngắn, bản dịch chắc chắn sẽ có thiếu sót và vẫn đang hoàn thiện. Nhóm dịch hoan nghênh mọi ý kiến đóng góp thông qua mục bình luận ở cuối trang.
- Bạn đọc nên sử dụng máy tính hoặc tablet để đọc dưới định dạng tốt nhất.
Dự án 1619 (The 1619 Project) được khởi xướng bởi tạp chí The New York Times từ tháng 8 năm 2019 đến nay, nhằm tưởng niệm 400 năm từ ngày khởi đầu chế độ nô lệ ở Mỹ. Mục tiêu của dự án là kể và hình dung lại câu chuyện lịch sử nước Mỹ xoay quanh hậu quả của chế độ nô lệ và công nhận sự đóng góp của người Mỹ da đen trong công cuộc dựng nước.

Our democracy’s founding ideals were false when they were written. Black Americans have fought to make them true.
Tiểu luận bởi Nikole Hannah-Jones
14/08/2019
ARTWORK BY ADAM PENDLETON
Hồi đó cha tôi luôn dựng một lá cờ quốc kỳ Mỹ ở trước sân. Màu sơn xanh của ngôi nhà hai tầng nơi chúng tôi ở thì sứt mẻ; hàng rào, tay vịn bậc thềm, rồi cửa trước, luôn trong tình trạng hư hỏng, nhưng lá cờ đó lúc nào cũng nguyên vẹn tung bay. Lô đất nhà chúng tôi ở góc đường, được chính phủ liên bang đưa vào trong “lằn ranh đỏ”1, nằm dọc theo con sông chia đôi thị trấn Iowa thành hai bên, đen và trắng. Ở rìa bãi cỏ trước nhà chúng tôi, lá cờ được treo cao trên đỉnh một cây cột bằng nhôm, và hễ nó có chút xây xát gì là cha tôi sẽ lại thay mới ngay lập tức.
Cha tôi sinh ra trong một gia đình lĩnh canh trên đồn điền của người da trắng ở Greenwood, bang Mississippi, nơi những người da đen quần quật trên cánh đồng bông gòn từ mờ sáng đến tối mịt, như tổ tiên là của họ phải làm nô lệ không lâu trước đó. Tiểu bang Mississippi thời cha tôi còn niên thiếu vẫn theo chế độ apartheid; người da đen, chiếm phần lớn dân số bang, bị áp bức bằng nhiều kiểu bạo lực tàn khốc. Người da trắng ở Mississippi hành hình treo cổ người da đen nhiều hơn bất cứ bang nào khác ở Mỹ, và người da trắng ở quận nơi ba tôi sống hành hình người da đen nhiều hơn tất cả các quận khác ở Mississippi.2 Họ thường bị “kết tội” vì bước vào một căn phòng có phụ nữ da trắng đang ở, hay là va đụng vào một phụ nữ da trắng, hay vì họ khởi xướng một liên đoàn với những người lĩnh canh khác. Mẹ của cha tôi, cũng như những người da đen khác ở Greenwood, không được bầu cử, sử dụng thư viện công cộng hay làm bất cứ công việc nào ngoài chuyện vắt sức trên những cánh đồng bông gòn hay làm công cho các gia đình da trắng. Vậy nên vào những năm 1940, bà cùng ba đứa con nhỏ nhập hội những người miền Nam da đen khăn gói di cư lên phía Bắc. Bà đi tàu đến ga đường sắt Illinois Central ở Waterloo, bang Iowa, để rồi giấc mộng về Miền Đất Hứa huyền thoại bỗng tan vỡ khi bà nhận ra rằng chế độ Jim Crow3 không dừng ở ranh giới Mason-Dixon.4
Nội, chúng tôi hay gọi bà như vậy, tìm được một căn nhà trong khu phố của người da đen ở phía đông thành phố, bị chia cách với khu người da trắng, và tìm được một công việc được mặc định là việc của phụ nữ da đen, bất kể sống ở đâu, là dọn dẹp nhà cho người da trắng. Cha tôi cũng vậy, chật vật tìm cơ hội ở vùng đất hứa. Năm 1962 ông gia nhập quân đội ở độ tuổi 17, mang theo hy vọng thoát nghèo như nhiều chàng trai trẻ khác. Nhưng ông còn một lý do khác, một lý do phổ biến giữa những người đàn ông da đen bấy giờ: Cha tôi nuôi hy vọng rằng nếu ông phục vụ tổ quốc, thì tổ quốc sẽ một ngày nào đó coi ông như một công dân thực sự.
Cuối cùng thì quân ngũ không phải là giải pháp. Cha tôi không với tới được cơ hội nào, tham vọng đến mấy cũng phải giậm chân tại chỗ. Ông giải ngũ trong cảnh tương lai mờ mịt, rồi phải làm đủ các thể loại dịch vụ cho đến cuối đời. Giống như tất cả đàn ông và phụ nữ da đen trong gia đình, cha tôi cứ cày ngày cày đêm, nhưng cũng giống như tất cả đàn ông và phụ nữ da đen trong gia đình, cày vất vả đến mấy thì ông cũng chả khấm khá lên được.
Lúc còn trẻ, tôi chưa bao giờ hiểu được lá cờ trước sân nhà. Tại sao một người đàn ông da đen trực tiếp nhìn thấy đất nước mình lạm dụng người Mỹ da đen, thấy đất nước từ chối quyền công dân của chúng ta5, lại tự hào dựng cờ tung hô nó? Tôi không hiểu được sự yêu nước của ông, và cảm thấy xấu hổ vô cùng.
Tôi đã được thẩm thấu văn hoá ở trường rằng lá cờ không thực sự thuộc về chúng ta, rằng lịch sử của chúng ta bắt đầu từ chế độ nô lệ và chúng ta chưa đóng góp bao nhiêu cho quốc gia vĩ đại này. Dường như người Mỹ da đen chỉ có quyền tự hào văn hóa thông qua mối liên hệ mờ nhạt của chúng ta với Châu Phi, một nơi mà chúng ta chưa từng đến. Việc cha tôi cảm thấy tự hào là người Mỹ đối với tôi như một biểu hiện suy đồi, bởi ông đã chấp nhận sự lệ thuộc của chúng tôi.
Như hầu hết những người trẻ khác, tôi đã tưởng rằng mình biết nhiều lắm, trong khi thực tế tôi chả biết gì. Cha tôi có cái lí vững vàng để giương cao lá cờ đó. Ông biết rằng không gì có thể gạt bỏ những đóng góp của người da đen chúng ta cho quốc gia giàu có và quyền lực nhất thế giới, rằng Hoa Kỳ đơn giản sẽ không tồn tại nếu không có chúng ta.
Tháng 8 năm 1619, chỉ 12 năm sau khi người Anh chiếm đóng Jamestown, bang Virginia, một năm trước khi người Thanh giáo đổ bộ vào Plymouth Rock, và khoảng 157 năm trước khi thực dân Anh thậm chí quyết định muốn thành lập đất nước của mình, thực dân Jamestown đã mua 20 đến 30 người châu Phi bị bắt làm nô lệ từ bọn cướp biển Anh. Bọn cướp biển đã đánh cắp những người châu Phi từ một con tàu nô lệ Bồ Đào Nha, và trước đó thì bọn Bồ Đào Nha đã dẫn ép họ khỏi đất nước mà ngày nay gọi là Angola. Chế độ nô lệ Mỹ bắt đầu vào tháng 8 năm ấy, khi những người đàn ông và phụ nữ nô lệ đặt chân lên châu lục. Họ là những người đầu tiên trong số 12,5 triệu người châu Phi bị bắt cóc khỏi quê hương, gông cùm xuyên Đại Tây Dương trong cuộc di cư cưỡng bức lớn nhất trong lịch sử loài người trước Thế chiến thứ hai. Gần hai triệu người đã thiệt mạng giữa cuộc hành trình đầy cam khổ, còn được gọi là Hải Trình Tàu Nô Lệ (the Middle Passage).
Trước khi buôn bán nô lệ quốc tế bị bãi bỏ, 400.000 người châu Phi đã bị bán làm nô lệ vào nước Mỹ. Chính những người nô lệ ấy và con cháu của họ đã biến vùng đất của khổ sai thành một trong những thuộc địa thành công nhất của Đế quốc Anh. Trong điều kiện khắc nghiệt, họ đã san phẳng đất đai trên khắp vùng Đông Nam. Họ dạy thực dân trồng lúa. Họ trồng và hái bông gòn, loại hàng hoá có giá trị nhất của Mỹ trong thời kì đỉnh cao của chế độ nô lệ, chiếm một nửa sản lượng hàng hoá xuất khẩu của Mỹ và 66% nguồn cung của thế giới. Họ là những người xây dựng các đồn điền của George Washington, Thomas Jefferson và James Madison6, nuôi trồng những khoảng đất đai rộng lớn mà ngày nay hàng ngàn du khách thập phương đến thăm thú, say đắm trong lịch sử nền dân chủ vĩ đại nhất thế giới. Họ đặt nền móng cho Nhà Trắng và Tòa nhà Quốc hội, và thậm chí xây lên Tượng Nữ thần Tự do trên đỉnh mái vòm của Tòa Quốc hội. Họ đặt từng miếng gỗ để nối các tuyến đường sắt chạy dọc miền Nam, chuyên chở những toa tàu đầy bông gòn được hái bởi chính người da đen để đem đến các nhà máy dệt phía Bắc, từ đó thúc đẩy cuộc Cách mạng Công nghiệp. Họ đã bồi đắp lên khối tài sản khổng lồ cho người da trắng từ Bắc đến Nam – thậm chí có lúc người đứng thứ hai trên cả nước về của cải là một kẻ buôn bán nô lệ ở Rhode Island. Lợi nhuận từ việc cưỡng bức lao động người da đen đã giúp quốc gia còn trẻ có thể trả nợ chiến tranh và tài trợ cho một số trường đại học danh giá nhất trong nước. Phố Wall trở thành một khu ngân hàng, bảo hiểm, và thương mại thịnh vượng, và thành phố New York trở thành thủ đô tài chính thế giới, là kết quả của việc buôn bán, bảo hiểm, thương mại trên cơ thể và sức lao động của những người da đen.
Tuy nhiên, nếu cho rằng người da đen chỉ đóng góp vào sự giàu có của nước Mỹ bằng lao động nô lệ, là sai về mặt lịch sử. Người Mỹ da đen đã và đang nắm giữ cốt lõi cho lý tưởng tự do của Mỹ. Hơn bất kì nhóm người nào khác trong lịch sử đất nước, các thế hệ người da đen đã cùng đóng một vai trò mấu chốt nhưng ít được nhắc đến: Chính chúng ta là những người đã hoàn thiện nền dân chủ này.
1 Redlining: chính sách của chính phủ Mỹ phân chia những khu vực bị hạn chế tiếp cận về các dịch vụ công như ngân hàng, giáo dục, tài chính. Các khu vực bị đưa vào “lằn ranh đỏ,” (redlined) thường là các khu nội thành tập trung nhiều người da màu, nhất là người da đen thu nhập thấp.
2 Lynching: đọc thêm về kiểu hành quyết công khai ở nước Mỹ. Đây là hình thức hành quyết không qua xét xử, được thực hiện bởi một nhóm người.
3 Luật Jim Crow: một nhóm các bộ luật của bang và địa phương trong 100 năm từ hậu nội chiến đến 1968. Bộ luật hợp pháp hoá phân biệt chủng tộc, không cho người Mỹ gốc Phi quyền bầu cử, giữ việc làm, tiếp cận giáo dục hoặc những cơ hội khác.
4 Đường Mason-Dixon: Đường ranh giới được vẽ từ thế kỷ 18, phân định bốn tiểu bang của Hoa Kỳ, Pennsylvania, Maryland, Delaware và phía Tây bang Virginia lúc bấy giờ. Sau này “đường Mason-Dixon” được gọi ẩn dụ là biên giới không chính thức giữa các bang tự do (miền Bắc) và các bang vẫn theo chế độ nô lệ (miền Nam).
5 Xuyên suốt bài luận, tác giả nhiều lần dùng đại từ ngôi thứ nhất số nhiều “we” để chỉ về cộng đồng người Mỹ da đen. Người dịch chọn dịch “we” thành “chúng ta.” Theo ý dịch này, tác giả đang viết lại câu chuyện trước hết cho cho độc giả người Mỹ da đen nói riêng, rồi mới đến độc giả người Mỹ nói chung và độc giả quốc tế.
6 George Washington (1732-1799): tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, nhiệm kỳ từ 1789 – 1797; được xem là một trong các “lãnh tụ khai quốc” (Founding Fathers) của nước Mỹ.
Thomas Jefferson (1746-1826): tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ, nhiệm kỳ từ 1801-1809; được xem là một trong các “lãnh tụ khai quốc” của nước Mỹ.
James Madison (1751-1836): tổng thống thứ tư của Hoa Kỳ, nhiệm kỳ từ 1809-1817; được xem là một trong các “lãnh tụ khai quốc” của nước Mỹ.

Nền móng của đất nước Hoa Kỳ vừa là một lý tưởng, vừa là một lời dối trá. Tuyên ngôn độc lập của chúng ta, được thông qua vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, tuyên bố rằng “mọi người đều sinh ra bình đẳng” và được “Tạo Hoá ban cho một số quyền bất khả xâm phạm.” Thế nhưng, những người đàn ông da trắng viết ra những dòng này đã không tin rằng những quyền đó cũng bao gồm hàng trăm ngàn người da đen sống ngay bên cạnh họ vào thời đó. “Quyền Sống , quyền được Tự do và mưu cầu Hạnh phúc” không áp dụng cho một phần năm dân số đất nước. Tuy nhiên, mặc dù không được hưởng cái tự do và công lý mà nước Mỹ hứa hẹn cho công dân, người Mỹ da đen vẫn tin tưởng mãnh liệt vào tín điều mang tên Mỹ quốc. Qua nhiều thế kỷ phản kháng và đấu tranh, người da đen đã đưa Mỹ đi đúng với những lý tưởng khai quốc. Và không chỉ cho bản thân chúng ta – các cuộc đấu tranh vì quyền của người da đen đã mở đường cho mọi cuộc đấu tranh nhân quyền khác, bao gồm cả quyền cho phụ nữ và người đồng tính, người nhập cư và người khuyết tật.
Nếu người Mỹ da đen đã không theo đuổi lý tưởng, trải qua nhọc nhằn, và giữ tình yêu nước, nền dân chủ ngày nay chắc hẳn đã rất khác – và thậm chí có thể không tồn tại.
Người đầu tiên chết vì đất nước này trong cuộc Cách mạng Mỹ là một người da đen, mà ngay cả bản thân anh ta cũng không được tự do. Crispus Attucks là một người chạy trốn khỏi chế độ nô lệ, nhưng anh ta đã hy sinh mạng sống cho quốc gia non trẻ của mình. Ở quốc gia ấy, mãi một thế kỷ sau, những người như anh vẫn không được hưởng các quyền tự do trong Tuyên bố độc lập. Trong mọi cuộc chiến mà nước Mỹ đã tham gia kể từ đó, người Mỹ da đen đã luôn đứng ra chiến đấu – ngày nay chúng ta là nhóm chủng tộc có khả năng cao nhất phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ.
Cha tôi, một trong số rất nhiều người Mỹ da đen đã đầu quân cho đất nước, biết rằng tôi sẽ phải mất nhiều năm để hiểu một điều: năm 1619 cũng quan trọng ngang ngửa năm 1776 trong lịch sử nước Mỹ. Rằng, người Mỹ da đen, không thua gì những người đàn ông được dựng tượng thạch cao tại thủ đô quốc gia, là những đấng khai quốc thực sự của đất nước này. Và rằng, không ai xứng đáng với lá cờ đó hơn chính chúng ta.
Vào tháng 6 năm 1776, Thomas Jefferson ngồi tại bàn viết di động của mình trong một căn phòng trọ ở Philadelphia và viết những dòng này: “Chúng tôi khẳng định những chân lý này là hiển nhiên, rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, họ được Tạo hoá ban cho một số quyền bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Trong 243 năm qua, chính nhờ sự cương quyết bảo vệ các quyền cơ bản và tự nhiên của loài người về tự do và tự chủ đã khiến chúng ta được biết đến như vùng đất tự do của thế giới. Tuy nhiên, trong lúc Jefferson viết ra những từ ngữ đầy cảm hứng ấy, một cậu bé thiếu niên đang đứng gần đó để chờ chủ nhân ra lệnh và sai bảo, và cậu sẽ không được hưởng bất kỳ quyền hay lợi ích nào mà Jefferson mới viết ra. Tên cậu bé ấy là Robert Hemmings, và cậu là em trai cùng cha khác mẹ của vợ Jefferson, được sinh ra bởi cha của Martha Jefferson và một người phụ nữ mà ông ta sở hữu. Việc những người chủ nô da trắng giữ những đứa con mang nửa dòng máu da đen làm nô lệ là chuyện thường. Jefferson đã chọn Hemings, từ khoảng 130 người nô lệ trong trại lao động cưỡng bức mà ông ta đặt tên là Monticello, để tháp tùng đến Philadelphia và phục vụ ông trong lúc ông soạn thảo văn bản ủng hộ một nước cộng hòa dân chủ mới dựa trên nhân quyền độc lập.
Vào thời điểm đó, một phần năm dân số của 13 thuộc địa chật vật dưới một hệ thống nô lệ tàn bạo không giống như bất cứ điều gì trên thế giới trước đây. Chế độ chiếm hữu nô lệ không dựa trên điều kiện, mà dựa trên chủng tộc. Đó là một chế độ mang tính thừa kế và vĩnh viễn, không phải tạm thời, nghĩa là các thế hệ người da đen đều bị sinh ra làm nô lệ, rồi đến con cái họ cũng phải kế thừa cái vị trí nô lệ ấy. Người nô lệ không được công nhận làm con người mà là tài sản, có thể được thế chấp, trao đổi, mua, bán, dùng làm quà tặng và bị quăng vứt đi. Những người thực dân da trắng như Jefferson biết rằng người da đen là con người, nhưng họ đã tạo ra một mạng lưới luật pháp và phong tục, vừa chính xác và tàn ác đến mức kinh ngạc, để đảm bảo rằng những người nô lệ sẽ không bao giờ bị đối xử như con người. Nhà hoạt động bãi nô William Goodell đã viết vào năm 1853, “Nếu cái gì được lập nên từ giả dối cũng có thể được xem như khoa học, thì chúng ta có thể đưa hệ thống nô lệ của Mỹ vào danh sách các ngành khoa học chính quy.”
Người bị nô lệ không thể kết hôn hợp pháp. Họ bị cấm học đọc và không được gặp gỡ họp nhóm riêng tư. Họ không có quyền gì với con cái của mình, và con của họ có thể bị lấy đi để mua, bán và trao đổi trên các bục đấu giá cùng với đồ nội thất hoặc gia súc, hoặc đằng sau các cửa hàng treo biển “Ở đây bán nô lệ da đen.” Những kẻ sử dụng nô lệ và toà án không màng đến quan hệ mẹ con, anh chị em, hay họ hàng gì. Trong đa số toà án, người nô lệ không có chỗ đứng pháp lý. Kẻ sở hữu nô lệ có thể cưỡng bức hoặc giết “tài sản” của mình mà không phải chịu bất cứ hậu quả pháp lý nào. Những người nô lệ không thể sở hữu hay truyền lại của cải gì, và cũng không được thừa kế bất cứ thứ gì. Luật pháp cho phép họ bị tra tấn, bao gồm chính những người nô lệ của Jefferson. Họ có thể bị ép làm việc cho đến chết, và chuyện đó cũng thường xảy ra, để tạo ra lợi nhuận cao nhất cho những người da trắng chủ nô.
Vậy mà trớ trêu thay, để lập luận chống lại sự chuyên chế của Anh, một trong những phép ẩn dụ ưa thích của bọn thực dân là tuyên bố rằng họ cũng đang bị nô lệ – bởi nước Anh. Phép so sánh này đã khiến họ bị lên án chỉ trích dữ dội từ trong và ngoài nước. Nhà văn thuộc phe bảo thủ ở Anh tên là Samuel Johnson đã châm biếm, “Cớ gì mà chúng ta lại nghe thấy tiếng kêu la đòi tự do lớn nhất từ những kẻ buôn người da đen?”
Các thần thoại khai quốc thường cố ý không nhắc đến, một trong những lí do khiến một số thực dân quyết định tuyên bố độc lập khỏi Anh là vì họ muốn bảo vệ thể chế nô lệ. Đến năm 1776, Anh đã tự mâu thuẫn sâu sắc về vai trò của mình trong thể chế nô lệ man rợ, bấy giờ đã định hình Tây bán cầu. Ở Luân Đôn, ngày càng có nhiều lời kêu gọi bãi bỏ buôn bán nô lệ. Điều này có thể làm đảo lộn nền kinh tế của các thuộc địa, ở cả miền Bắc và miền Nam. Sự giàu có và vị thế để Jefferson, chỉ mới 33 tuổi, và những vị lãnh tụ khai quốc khác tin rằng họ có thể tách ra khỏi một trong những đế quốc vĩ đại nhất thế giới, là kết quả của lợi nhuận khổng lồ từ chế độ nô lệ. Nói cách khác, cuộc nổi dậy chống lại Anh có thể đã không xảy ra nếu một số nhà khai quốc lúc ấy không hiểu rằng chế độ nô lệ cho phép họ làm như vậy; cũng như nếu họ không tin rằng cần phải có độc lập để đảm bảo sự tiếp tục của chế độ nô lệ. Không phải ngẫu nhiên mà trong 12 tổng thống đầu tiên của đất nước thì có đến 10 người đã sở hữu nô lệ. Và người ta có thể lập luận rằng quốc gia này được thành lập không dựa trên một nền dân chủ (democracy) mà dựa trên một chế độ dân chủ nô lệ (slavocracy).
Jefferson và những nhà khai quốc khác hiểu rõ sự giả dối này hơn ai hết. Vì thế, trong bản dự thảo ban đầu của Tuyên ngôn độc lập mà Tổng thống Jefferson viết, ông đã cố gắng lý luận rằng những người thực dân không có lỗi. Thay vào đó, ông đổ lỗi cho vua nước Anh vì đã buộc những người thực dân miễn cưỡng theo thể chế nô lệ, và gọi việc buôn bán người là tội ác. Tuy nhiên, cả Jefferson và hầu hết những nhà khai quốc đều không có ý định bãi bỏ chế độ nô lệ, và cuối cùng họ đã gạch bỏ đoạn văn này ra khỏi Tuyên ngôn.
Bản Tuyên ngôn độc lập cuối cùng không đề cập gì đến chế độ nô lệ. Rồi cũng tương tự, 11 năm sau, Hiến pháp đã được soạn một cách cẩn thận để vẫn bảo vệ và gìn giữ chế độ nô lệ mà không hề đề cập đến từ này. Trong những đoạn mà những người soạn Hiến pháp cổ vũ cho sự tự do trên thế giới, họ không muốn sự đạo đức giả của mình bị chú ý nên phải tìm cách che đậy. Hiến pháp có 84 điều khoản, trong đó sáu điều khoản đề cập trực tiếp đến chiếm hữu nô lệ và người bị nô lệ, như nhà sử học David Waldstre đã viết, và năm điều khác có hàm ý liên quan đến chế độ nô lệ. Hiến pháp bảo vệ “tài sản” của những người sở hữu nô lệ, cấm chính phủ liên bang can thiệp vào việc đưa người châu Phi bị bắt đến Mỹ trong suốt 20 năm, cho phép Quốc hội huy động quân đội để đàn áp các cuộc nổi dậy của người nô lệ, và bắt các bang đã bãi bỏ chế độ nô lệ phải giao nộp những người nô lệ bỏ trốn tị nạn. Nhiều người, trong đó có nhà văn và nhà hoạt động bãi nô Samuel Bryan đã chỉ ra sự gian dối trong Hiến pháp, khi mà “Từ ngữ thì vừa rối tắm vừa mơ đồ; không người bình thường nào sử dụng những từ ngữ như vậy, và chắc chắn cách chọn từ đó là để che mắt châu Âu khỏi chuyện, ở đất nước văn minh này, những kẻ ủng hộ chế độ nô lệ đang nắm giữ những vị trí cao nhất.”
Sau khi tuyên bố độc lập, những nhà khai quốc hết cách đổ trách nhiệm cho nước Anh về chế độ nô lệ. Quốc gia phải tự tìm cách đối mặt và tẩy sạch tội lỗi. Một đất nước được thành lập trên cơ sở tự do cá nhân lại duy trì chế độ chiếm hữu nô lệ; các học giả ngày nay khẳng định chính nghịch lý đáng xấu hổ ấy đã dẫn đến sự phân cấp xã hội theo chủng tộc ngày càng sâu sắc. Hệ tư tưởng này được củng cố bởi không chỉ luật pháp và còn bởi các nội dung khoa học, văn học phân biệt chủng tộc. Nó hằn sâu niềm tin chủng tộc da đen hạ đẳng hơn con người, để người Mỹ da trắng có thể sống trong nghịch lý của chính họ. Đến đầu những năm 1800, theo các nhà sử gia luật pháp Leland B. Ware, Robert J. Cottrol và Raymond T. Diamond, người Mỹ da trắng dù có tham gia nô lệ hay không cũng “đã đầu tư đáng kể về tâm lý cũng như kinh tế để củng cố niềm tin rằng người da đen hạ đẳng.” Trong khi quyền tự do của những ai được coi là da trắng là bất khả xâm phạm, thì đối với những ai có bất cứ giọt máu “da đen” nào, nô dịch trở thành lẽ tự nhiên.
Tòa án Tối cao đã thể hiện lối suy nghĩ này trong quyết định năm 1857 vụ Dred Scott. Khi đó Toà phán quyết rằng người da đen, dù bị nô lệ hay tự do, đều có gốc gác từ một loại chủng tộc “nô lệ.” Vậy nên họ hạ đẳng so với người da trắng và do đó, không tương thích với nền dân chủ Mỹ. Chế độ dân chủ là quyền lợi cho công dân Mỹ, và “chủng tộc da đen” được tòa phán quyết là “một nhóm người riêng biệt” mà những nhà khai quốc đã “không công nhận là công dân Mỹ,” và “người da trắng không phải tôn trọng bất cứ quyền gì của họ.” Quan điểm người da đen không phải bị-nô-lệ mà là một chủng-tộc-nô-lệ châm ngòi cho nạn phân biệt chủng tộc, một “đặc sản” quốc gia đến nay vẫn chưa thể diệt tận gốc. Nếu người da đen mãi mãi không bao giờ được xem là công dân, nếu tách biệt họ khỏi các tầng lớp con người khác, thì Hiến pháp chả cần công nhận quyền của họ, và chữ “chúng ta” trong “người dân chúng ta” (We the People) cũng không phải là dối trá.
Nghe thêm Podcast của Hannah-Jones về câu chuyện của những người nô lệ và di sản họ để lại.