Leaving, Returning, and Forgetting Viet Nam

Forgetting Vietnam, Trinh T. Minh Ha, 2015

1.Chủ đề về hai (2) thứ, luôn lặp lại trong Forgetting Vietnam
+ Tiếng Việt – Tiếng Anh
+ Thuyền – Nước
+ Nước – Đất
+ Hà Nội – Thành Phố Hồ Chí Minh
+ Hi-8 – High Definition
+ Trước 1975 – Sau 1975
+ Già – Trẻ
+ Man – Woman
+ Human – Non-Human
+ Inside – Outside
+ Sự sống – Cái chết
+ Leaving (Đi) – Return ( Về)
+ Remember – Reremember – Unremember

2. Những người phụ nữ
cô lái đò là hình ảnh đưa dẫn đến việc bắt đầu Forgetting Vietnam với cô. Như nhiều phim trước đây, hình ảnh người phụ nữ luôn là trọng điểm trong những thước phim bày tỏ quan điểm và lý luận của cô. Và trong Forgetting Vietnam cô lại chỉ ra cho tôi một lần nữa, vai trò của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam, và gần như phần nhiều Á Đông:
người đưa đò, đưa người từ bờ này sang bờ bên kia, bờ ở đây, có thể hiểu ở nghĩa đen và bóng.
người phụ nữ trong quan họ
người phụ nữ ở chợ
người phụ nữ ở chùa (và nhà thờ)

họ dường như tạo nên một xã hội độc lập với đàn ông, và với hiện đại hoá. Xã hội độc lập đó tồn tại trong cử chỉ, ngôn ngữ và nhịp điệu riêng– một văn minh riêng (civilisation). Và cũng như những “chiếc túi” (pocket), tự bao hàm những thứ trong nó, và ý kiến về những thứ ngoài nó, những “hội” phụ nữ và những cá nhân phụ nữ là những chiếc túi lẫn trong xã hội.
Những chiếc túi này, cũng là những người lái xe buýt, taxi, và nhà thơ,..

2. Human – Non Human
Sự qua đời của người bố của cô dẫn đến sự thay đổi trong tầng nghĩa của Forgetting Vietnam, khi cô được mở cảnh cửa tới một khái niệm cũng không mới với cô: non-human: vượt qua con người, không phải con người.

Tôi nhận ra việc tôi luôn ám ảnh với người già và sự qua đời của họ. Tôi luôn sợ khi người già chết đi, hay là việc tôi chưa thể về Việt Nam ngay bây giờ, để có thể ghi chép về ông bà; vì ở New York, tôi vẫn đang tìm thời gian để ghi chép về một người già khác mà tôi đang theo học. Tôi nhận ra, một vài năm trước, hay chính xác là một khoảnh khắc lúc nào đó vài năm trước, là khi người già chết đi. họ mang đi trong họ một khối kiến thức, hay thông tin, về bất kỳ thứ gì, và về cuộc sống – cách sống, và khối thông tin đó, mãi sẽ không tồn tại, hay được truyền tải và lưu trữ ở bất kì đâu ( cho đến khi người nào đó khai quật được ghi chép đằng sau mấy cuốn sách nhoè mực đóng bụi).

3. Vì đó, mạch phim chuyển hướng sang Nước, và những yếu tố non-human khác.
Forgetting Vietnam mở đầu với chữ Đất Nước. Đất (land) Nước (Water, Country). Nước (water), trong tiếng Việt, bao hàm Nước (country). Ba con sông, ba dòng nước ôm dọc Việt Nam: sông Hồng, sông Hương, sông Cửu Long.
Trong nước (water), tồn đọng nguồn cung cấp cho sự sống, và chứa cả ký ức: ký ức về Nước (Country), ký ức chiến tranh, ký ức về con người.

4. Ký ức : Memory – Reremember – Unremember – Forgetfulness

‘There is No Such Thing as Documentary’: An Interview with Trinh T. Minh-ha | Frieze

5. Ngôn ngữ, tiếng nói, phụ đề, phiên dịch, và âm thanh:

Cô nói là, phim, (của cô) quan trọng hơn ý nghĩa, phụ đề và nhân vật là có tiếng nói, nhịp điệu, và màu sắc. Tiếng nói ở đây, không phải tiếng nói của talking-heads, hay phiên dịch, hay tường thuật, mà là tiếng nói phát ra từ toàn cảnh, tạo nên trong khung hình: âm nhạc và màu sắc.

Nói về việc sử dụng chữ (text) trong phim, cô sử dụng từ superimpose: đặt lên trên cùng, chồng lên, và compose: biên soạn, sáng tác. Về cơ bản, phông chữ, màu chữ, hay chuyển động của những text superimpositions của cô ít mang hàm ý giải thích hay làm phụ đề cho hình ảnh / âm thanh đang phát, mà chúng thuộc về bố trí tổng quan của khung hình (composition).

6. Còn nhiều ý khác, nhưng chưa nghĩ xong.

Forgetting Vietnam, Trinh T. Minh Ha, 2015

nguồn : Frieze và ghi chép trực tiếp ở Anthology Film Archive (06/12/2019)

Leave a comment